Du lịch nội địa
Du lịch quốc tế
Xe du lịch
Tour du thuyền
Tour theo ngày
Tiện ích
Thống kê truy cập
slide3
slide4
dulichvietnamgiare.vn  dulichvietnamgiare.vn
dulichvietnamgiare.vn  http://dulichvietnamgiare.vn
Website động và website tĩnh khác nhau như thế nào?

Ký Sự Tây Bắc

4/9/2015 9:52:00 AM
Sau những ngày Tết vui vẻ cùng gia đình, tôi lại náo nức mong chờ chuyến đi du Xuân miền Bắc cùng các anh chị trong Đoàn cựu SV hóa học, mong đến ngày được đặt chân đến thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, mặc dù đây không phải là lần đầu.

GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI TÂY BẮC (15/2 – 23/2/2014)

 

Của Đoàn Cựu Sinh Viên Hóa học

 

Đào Thị Thanh Chúc – HC82

 

Phần 1:

Sau những ngày Tết vui vẻ cùng gia đình, tôi lại náo nức mong chờ chuyến đi du Xuân miền Bắc cùng các anh chị trong Đoàn cựu SV hóa học, mong đến ngày được đặt chân đến thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, mặc dù đây không phải là lần đầu.

 

...Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi…

 

Ánh đèn giăng mắc muôn nơi

 

Áo màu tung gió chơi vơi…

Lần thứ nhất được ra thủ đô thì tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ chưa biết gì nhiều; lần thứ hai do hoàn cảnh, phải ghé về thăm quê hết sức vội vã nên chẳng đi được đến đâu là bao nhiêu. Lần này chắc mẩm trong lòng là sẽ phải giành rất nhiều thời gian để thăm thú mọi nơi mọi chỗ.Nhưng ra đến nơi rồi thì lại cảm thấy một nỗi thất vọng ngút ngàndù đã từng nghe:

 

Chẳng thơm cũng thể hoa lài

 

Dẫu không lịch sự cũng người Tràng An.

Đất Tràng An lịch sự xưa kia đâu nhỉ?Ngày nay, những món ăn, những đặc sản, những nét văn hóakhông còn mang hương vị xưa nữa. Nhà văn Vũ Bằng với Thương nhớ mười haicủa ông chắc hẳn chỉ còn là trong tâm tưởng của những người vốn đã từng yêu và mơ đến Thăng Long Hà Nội ngày xưa. Ngày nay ghé đến đất kinh kỳ, nhà cao tầng phố mới rực rỡ, người đông tấp nập. Món ăn thì nhạt nhẽo,giá cả thì đắt kinh khủng, con người thì ăn nói“đao to búa lớn”, mở miệng là nói cạnh nói khóe. Than ôi, những nét xưa thanh lịch còn đâu!

Nhưng thôi, những hoài niệm đó chúng ta sẽ giành vào một dịp khác để trao đổi. Giờ thì, sau khi đã kịp nghỉ ngơi trong chốc lát, chúng tôi đáp chuyến xe chiều đến thăm làng cổ Đường Lâm.

Làng cổ Đường Lâm thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội. với những ngôi nhà được xây dựng bằng chất liệu đá ong độc đáo. Đường Lâm trước kia gọi là làng Mía - một làng thuần Việt lối cổ, hiện có 9 thôn còn lưu giữ được gần 800 ngôi nhà xây dựng bằng chất liệu đá ong độc đáo của xứ Đoài. Là một vùng nhỏ hẹp nhưng Đường Lâm lại trở thành một địa danh nổi tiếng vì tại đây còn lưu giữ nhiều di tích được xếp hạng Quốc gia như đền Phùng Hưng, lăng Ngô Quyền, Chùa Mía, nhà thờ thám hoa Giang văn Minh, đình Mông Phụ, cùng với nhiều truyền thuyết và những sản vật độc đáo.

Đường Lâm hội tụ đủ các giá trị văn hóa của làng cồ Việt Nam.Đây  là một làng cổ tiêu biểu nhất của Hà Nội và cả nước. Đường Lâm là vùng đất cổ có quá trình hình thành và phát triển liên tục, xưa là đất sản sinh hai vị vua: Phùng Hưng và Ngô Quyền. Vì thế, Đường Lâm còn có một tên gọi khác là “Đất hai vua". Nét cổ nhất của Đường Lâm là cổng làng và đình Mông Phụ.

Cổng làng chính là nơi hội tụ lớp làng văn hóa của người dân nơi đây. Cổng làng hình vòm, xây bằng đá ong có niên đại cách đây gần 200 năm. Trước kia, Đường Lâm có tới 5 cổng làng, nhưng cùng với thời gian, những chiếc cổng làng ấy đã đổ nát và giờ chỉ còn lại duy nhất một chiếc cổng của làng Mông Phụ, trên còn lưu dòng chữ "thế hữu hưng ngơi đại", tạm hiểu là "thời nào cũng có ngườitài giỏi".

Cổng vào làng Đường LâmĐá ong - vật liệu xây dựng nhà cổ

Người ta bảo: “Đến Đường Lâm mà chưa đi tham quan đình Mông Phụ thì coi như chưa đến”. Đình Mông Phụđã có cách đây gần 380 năm, mang đậm dấu ấn của lối kiến trúc Việt - Mường: đình có sàn gỗ cách mặt đất, mô phỏng kiểu kiến trúc của nhà sàn.

 

Hai CSVHHtrước đình làng Mông Phụ                   Đền thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng

Đường Lâm còn có di tích chùa Mía và đền thờ bà chúa Mía.Chùa Mía (Sùng Nghiêm tự): nằm ngay một ngã ba trên đường tới khu di tích lăng và đền, thờ bà chúa Mía, trong chùa có rất nhiều tượng được làm bằng đồng, gỗ hoặc đất sét, không gian thanh tịnh và êm ả.

 

                        Di tích chùa Mía và đền thờ bà chúa Mía

Làng cổ giờ đây vẫn còn rất đẹp và yên vắng,nhưng dấu vết của nền kinh tế thị trường đã bắt đầu xâm nhập vào cuộc sống yên bình của người dân Đường Lâm. Những mùa lễ hội, xin xăm, bói quẻ, những gian hàng bán nước uống, cơm quê cùng những vật phẩm du lịch phục vụ du khách bốn phươngđã trải dài suốt những con ngõ bằng đá ong dẫn vào làng cổ. Những nếp  nhà cổ như của người cựu lão binh Kiều Anh Ban đã được Nhà nước cấp bằng di sản quốc gia và được bảo tồn, phục chế lại gần như nguyên bản để phục vụdu khách.

 

Nếp nhà cổ của người cựu chiến binh Kiều Anh Ban

Trong buổi chiều muộn ghé đến Đường Lâm hôm nay, chúng tôi vẫn còn bắt gặp hình ảnh dăm cụ già chống gậy đi lại hỏi thăm nhau, vài người còng lưng đẩy những chiếc xe chất đầy mạ xanh non. Đến thăm làng cổ, chúng tôi nghe tiếng bước chân mình rộn lên trong từng ngõ nhỏ, chạm tay vào lớp đá xù xì mát rượi của chiếc cổng làng duy nhất còn sót lại, đọc mấy chữ đại chữ đại tự "Thế hữu hưng ngơi đại" (Thời nào cũng có người tài giỏi), hẳn là ai cũng sẽ cảm thấy hình như có một điều kỳ diệu nào đó vẫn còn tiềm ẩn dưới lớp đá dày trầm mặc tích tụ từ bao đời.

Ngày thứ hai bắt đầu cuộc hành trình “Tây Bắc tiến”. Địa phương đầu tiên chúng tôi hướng đến là thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và địa điểm đầu tiên ghé thăm là công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. Chúng tôi được nghe giới thiệu 4 nhiệm vụ chính của công trình thủy điện lớn nhất miền Bắc này (khi chưa có nhà máy thủy điện Sơn La):

-   Phòng chống lũ lụt

Sông Đà là một trong ba phụ lưu chính của hệ thống sông Hồng, chiếm 55%lượng nước. Công trình thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có thủ đô Hà Nội.

-   Phát điện:

Nhà máy thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam. Năm 1994, cùng với việc khánh thành nhà máy và tiến hành xây dựng đường dây 500KV Bắc - Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) hình thành một mạng lưới điện quốc gia. Công trình này góp phần đắc lực trong việc cung cấp nguồn điện cho miền nam và miền trung Việt Nam.

-   Tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp:

Đập thủy điện Hòa Bình quan trọng vào việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp ỏ vùng hạ lưu trong đó có đồng bằng sông Hồng, nhất là trong mùa khô. Điều tiết mực nước sông đồng thời đẩy nước mặn ra xa các cửa sông.

-   Giao thông thủy:

Cải thiện việc đi lại bằng đường thủy ở cả thượng lưu và hạ lưu. Năm 2004 công trình tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được vận chuyển chủ yếu bằng con đường này.

Chúng tôi đã theo cô nhân viên PR của nhà máy chuyên phục vụ hướng dẫn các khách đi theo đoàn, đi vào tận tầng hầm sâu trong lòng núi để đến khu vực tập trung 8 tổ máy phát điện. Nghe cô giới thiệu về đặc điểm địa chất của nơi được chọn để xây dựng công trình thủy điện; những khó khăn vất vả của thời kỳ bắt đầu xây dựng công trình, những mốc thời gian đưa từng tổ máy phát điện vào hoạt động

 

Công ty thủy điện Hòa Bình    Đường dẫn vào 8 tổ máy phát điện             8 tổ máy phát điện

Sau đó chúng tôi lên đài tưởng niệm Bác Hồ. Đài được xây trên đỉnh núi, gồm 2 tầng. Tầng thứ nhất có 24 bậc thang dẫn đi lên tượng trưng cho 24 năm lãnh đạo công cuộc kháng chiến và kiến thiết đất nước, tầng thứ hai gồm 79 bậc thang đi xuống tượng trưng cho 79 năm cuộc đời giản dị của Bác Hồ.

Đài tưởng niệm Hòa Bình hình turbin, trầm mặc, yên tĩnh và trang nghiêm: chúng tôi đã ghé vào để đốt những nén tâm hương thay cho lời cảm ơn và lòng kính trọng đối với 168 liệt sĩ anh hùng, trong đó có 11 người Liên Xô đã hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ xây dựng công trình thủy điện này.

Tại sân Nhà truyền thống Thủy điện Hòa Bình có một khối bê tông hình thang, trên đó có tấm biển thép khắc chìm dòng chữ: “Nơi lưu giữ bức thư của những người xây dựng Thủy điện Hòa Bình gửi thế hệ mai sau. Thư được mở vào ngày 1-1-2100”. “Kho lưu trữ” lá thư thực chất chỉ là một khối bê tông hình thang có cạnh đáy 2 mét, chiều cao 1,8 mét, cạnh trên 0,8 mét, nặng gần 10 tấn.

 

Nơi lưu giữ bức thư gửi thế kỷ mai sau trên tấm biển đồng

Những người làm việc tại công trường Thủy điện Hòa Bình từng được nghe giới thiệu về lá thư đó và được nghe giải thích là đến năm 2100, nhà máy hết hạn sử dụng phải phá đi thì lúc đó mới được mở lá thư ra xem. Lá thư hiện nay để trong khối bê tông là một công trình tập thể bởi lấy ý hay, lời đẹp từ rất nhiều lá thư khác nhau. Trong đó có đoạn văn của hai người: đó là nhà báo Thép Mới của Việt Nam và Giaseplin, đại diện cho Đoàn chuyên gia Liên Xô.

 

Đoạn mở đầu là của nhà báo Thép Mới: "Hôm nay, trước núi Tản, sông Đà, những Sơn Tinh của thời đại mới - những người xây dựng Thủy điện Hòa Bình Việt Nam và Liên Xô gửi đến các thế hệ trẻ Việt Nam mai sau những dòng tâm huyết...".

Rồi tiếp theo, lá thư nói về những khó khăn:"Thế hệ chúng tôi cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm, những chúng tôi vẫn chắt chiu và quyết tâm xây dựng công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, biểu tượng tốt đẹp của tình hữu nghị Việt - Xô cho đời đời con cháu mai sau".

Giaseplin thì viết: "Hòa Bình - tên gọi của công trình là biểu tượng tuyệt đẹp và ước mơ của toàn nhân loại".

Vậy tại sao lại phải đến năm 2100 mới được mở?

Về việc này, có hai ý kiến giải thích:

Thứ nhất, đã là thư gửi "thế hệ đời sau" thì có nghĩa là lúc đó, những người sinh ra vào lúc Thủy điện Hòa Bình khởi công, có lẽ không còn mấy người và những công nhân, kỹ sưtham gia xây dựng nhà máy cũng đã thành người "thiên cổ" từ lâu.

Thứ hai, vào năm 2100, lớp bùn dưới lòng hồ đã dày thêm khoảng 56m, như vậy là không thể phát điện được nữa. Cần phải cho nhà máy nghỉ ngơi để nạo vét lòng hồ, hoặc phá bỏ nhà máy. Và lúc đó mới mở lá thư cho thế hệ ngày đó biết ngày xưa, lớp cha ông đã lao động như thế nào.

Địa điểm thứ hai mà chúng tôi ghé đến tại Hòa Bình là Bản Lác thuộc xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu. Đây là điểm du lịch đặc biệt trên bản đồ du lịch Tây Bắc của Tổ quốc, với 100% người dân tộc Thái trắng sinh sống. Bản Lác cách Hà Nội hơn 100km, cảnh vật còn giữ được nét hoang sơ với nếp sinh hoạt đậm đà bản sắc dân tộc. Du khách đến đây không chỉ để tham quan mà còn để học cách sống chậm và thưởng thức những ngày sống chậm tại bản Lác.

 

 

Anh Thạch chụp hình với hai thiếu nữ H’Mông “Made in Saigon”

Bản Lác có đường nhựa trải từ đầu bản đến tận sân từng nếp nhà sàn mộc mạc bằng gỗ. Nhà sàn ở bản Lác được dát bằng tre rộng mênh mông, cái nào cũng cao ráo, sạch sẽ và giữ được truyền thống kiến trúc cổ. Bên trong có đầy đủ chăn, đệm, gối được gấp ngăn nắp, gọn gàng. Sát cạnh sàn ngủ – nghỉ là sàn ngồi để ăn cơm và uống trà.

 

Người người, nhà nhà ở Bản Lác rủ nhau làm du lịch. Du lịch gần như là nguồn thu chính của người dân nơi đây. Từ chỗ chỉ dệt những chiếc khăn, chiếc váy, chiếc áo thổ cẩm để mặc, phụ nữ trong bản đã tự làm nhiều đồ lưu niệm bán cho khách như dệt khăn quàng cổ, váy xòe Thái, vải treo tường có trang trí, ... chế tác nhiều cung, nỏ, mõ trâu, chiêng, tù và sừng trâu, phách gỗ nhịp tre, nỏ, cung tên,… để làm quà lưu niệm cho khách tham quan. Ngoài ra còn có thêm các dịch vụ như: cho thuê trang phục dân tộc, thuê xe đạp đi vòng quanh bản, ...Các chị cũng thuê thử những bộ trang phục dân tộc sặc sỡ để chụp hình về khoe với mọi người ở nhà.

Ngày xưa chúng tôi được biết đến Mai Châu qua tập ký sự “Nhớ Mai Châu” của nhà văn Tô Hoài và qua bài thơTây Tiến nổi tiếng của tác giả Quang Dũng:

 

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói.

 

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Ngày nay du khách nhớ đến điểm du lịch cộng đồng này như nhớ chính ngôi nhà của mình, dù trái tim có sắt đá đến đâu cũng phải mượn thơ mà thốt lên rằng:

Nhớ ôi Bản Lác cơm lên khói

Mai Châu em thơm mùa du lịch

Vương vấn đường xa khách muôn nẻo

Để lại Mai Châu chút nhớ mong.

Mộc Châu là cao nguyên lớn, trải dài khoảng 80 km, rộng 25 km, với 1.600 ha đồng cỏ, là nguồn thức ăn vô tận cho những đàn bò sữa béo căng.Chúng tôi mê mải chụp những tấm hình ngược sáng dưới ánh chiều tàthấp thoáng trên những đồi chè mênh mông bát ngát, trải dài ngút mắt đến tận chân trời.Mộc Châu lúc nào cũng đẹp. Vẻ đẹp bao la, khoáng đạt và thơ mộng của Mộc Châu đã làm đắm say bao du khách. Nếu người ta ví Sơn La như cô thiếu nữ ngọc ngà bên bờ suối, thì Mộc Châu là đôi mắt huyền ảo của người sơn nữ vùng cao. Chẳng thế mà lên xe rồi, chúng tôi vẫn còn nghêu ngao câu hát:

 

Tôi nhớ mãi một mùa xuân chia phôi, mây mù giăng kín núi đồi…Nàng ơi tôi đã trút tơ lòng để mấy bông hoa rừng…

và

 

Sơn nữ ơi, đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây…

Những ngày đầu Xuân, cao nguyên Mộc Châu như nàng tiên vừa bừng dậy sau giấc ngủ, khoác trên mình váy áo mới trắng tinh khiết được tạo nên bởi hoa mơ, hoa mận.Không chịu thua em kém chị, những vạt hoa cải vàng rực rỡ khoe sắc phô hương.

Dù không phải là tháng 11,nhưng chúng tôi vẫn có thể thấy và chụp hình nhữngvạt hoa cải trắng hiếm hoi còn sót lại ở ven đường. Tuy không rực rỡ như cải vàng, nhưng màu sắc đơn sơ của hoa cải trắng vẫn mang một vẻ đẹp riêng, gợi nhiều cảm xúc trong lòng người.

Chúng tôi dừng xe để lặng ngắm những vườn chè mênh mông của vùng cao nguyên Mộc Châu. Mùa này nông trường vừa thu hoạch xong, cả nương chè bát ngát chỉ còn lại những gốc thân khẳng khiu cao chừng 40-50 cm, trơ trọi và xám xịt sau trận rét. Vạt hoa cải nhà ai vàng rực trong ánh nắng dìu dịu của buổi chiều tà. Không bỏ lỡ cơ hội, chúng tôi tranh thủ chụp hình ngay trước khi ánh ngày sắp tắt.Có lẽ chúng tôi sẽ nhớ rất lâu những hũ yaourt được làm từ sữa dê mềm mịn, hơi hơi béo và dìu dịu ngọt, khác hẳn với yaourt được làm từ sữa bò.

 

                        Nông trường chè Mộc Châu

Sáng ngày hôm sau, từ nhà khách công đoàn tỉnh Mộc Châu, chúng tôi đi tiếp. Từ ngã ba cửa khẩu Pa Háng, đi bằng xe ô tô theo trục đường chính khoảng 4km, đến chỗ hợp lưu của 2 con suối thuộc xã Muờng Sang, tỉnh Sơn La là chúng tôi đã đến được thác Dải Yếm hùng vĩ. Thác còn có các tên gọi khác như thác Nàng, thác Bản Vặt; vẻ đẹp của thác nước được ví như vẻ đẹp xuân thì của những cô gái tuổi đôi mươi.

 

Thác Dải Yếm, Mường Sang

Đám sinh viên già chúng tôi nghĩ thầm: Thác Dải Yếm, cái tên chẳng biết mang ý nghĩa là yếm gì? Là những vạt yếm lòng thòng ở cổ những con bò cái trên vùng cao nguyên này, hay là những chiếc yếm đào đỏ thắm gợi tình của các cô nàng Thái, và chẳng biết có gợi cho ai đó về hình ảnh của cô thiếu nữ ngày xưa:

 

Khăn nhỏ, đuôi gà cao

 

Em đeo dải yếm đào…..

Nhưng rồi thì chúng tôi cũng được biết về sự tích của nó. Thác Dải Yếm – cái tên mềm mại, gợi hình được sinh ra từ một truyền thuyết đẹp và buồn về tình yêu. Tương truyền, tên Dải Yếm bắt nguồn từ truyền thuyết dòng thác là dải yếm của người con gái cứu chàng trai thoát khỏi dòng nước lũ. Thác ngày đêm đổ xuống trắng xóa, ầm ào, không chỉ mang đến cho du khách sự thích thú trước một khung cảnh vừa huyền bí vừa kỳ vĩ của đất trời mà còn cảm giác sảng khoái khi được hòa mình vào những ngọn gió mang hơi nước mát lành.

Và rừng thông bản Áng.Nhìn thoáng qua thì thấy giống như những đồi thông yên tĩnh ở Đà Lạt nhưng không khí u tịch, trầm lắng hơn, màu sắc tươi sáng hơn.Một ngày nắng hiếm hoi giữa đợt không khí lạnh giá của cao nguyên,thấp thoáng trên đồi cao kia là một cặp tân hôn trẻ trung đang lựa cảnh để chụp hình.Họ trao gửi cho nhau những ánh nhìn, những vòng ôm và cả những cái “kiss” thắm thiết giữa tiếng hát, tiếng vỗ tay chọc ghẹo của đám bô lão già mà ham …vui.

 

            Rừng thông bản ÁngCó ai làm “ phò …lừa” với tôi không?

Con lừa nhỏ này sao dễ gần quá há…dám đứng yên để cho mọi người làm “ phò…lừa” một bữa cho vui.Có sợ nó đá không đó?Hoa cải vàng rực rỡ quá các anh chị ơi. Màu áo, màu hoa như hòa nhập vào nhau, sáng bừng lên dưới nắngvà em thấyhình như má chị Hiên cũng thấp thoáng đỏ bừng, ưng ửng nắng dưới vành che thấp thoáng của chiếc dù hoa.

 

Đang mơ màng gì đó, chị Hiên ơi?           Anh chị Mỹ-Hòa trở lại với thuở mới yêu nhau

Chiều đến, đoàn chúng tôi khởi hành đi Sơn La. Thành phố Sơn Langày xưa là vùng rừng thiêng nước độc. Dân gian từng có câu: Nước Sơn La, ma Vạn Bú.Chúng tôi ghé thăm di tích nhà tù Sơn La do người Pháp xây dựng trên đồi Khau Cả vào năm 1908. Ban đầu chỉ là mộtnhà tù nhỏ hàng tỉnh, được mở rộng quy mô vào những năm 1930 – 1940. Giai đoạn từ 1930 – 1945 tại đây giam cầm hơn một ngàn tù nhân, trong đó có nhiều vị là cán bộ chủ chốt của cách mạng Việt Nam như Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Lương Bằng, Song Hào, Xuân Thủy, … Đến với di tích Nhà tù Sơn La, thăm các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian cùng với hàng trăm hiện vật, du khách sẽ chứng kiến hoàn cảnh sống cơ cực của tù nhân, càng khâm phục ý chí kiên cường của họ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù dân tộc, trong gian khổ hy sinh vẫn ngời lên tinh thần lạc quan, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng, rực rỡ ánh hồng tươi như những cánh hoa đào Tô Hiệu trước sân nhà ngục.

Bên cạnh khu di tích nhà tù là Nhà Bảo tàng tổng hợp của tỉnh Sơn La, nơi trưng bày nhiều hiện vật quí giới thiệu truyền thống lịch sử, văn hoá của cộng đồng 12 dân tộc đoàn kết cùng nhau xây dựng Sơn La thành tỉnh giàu có của Việt Nam.

Dừng chân trên đỉnh đèo Thung Nhuối để chụp hình và nghỉ giải lao trong giây lát, thưởng thức đặc sản của địa phương là bắp luộc, bắp nướng và cơm lam. Thấp thoáng xen lẫn trong màn khói lam chiều trên đỉnh đèo là những ngọn khói bốc lên từ bếp lửa than của các lều bán bắp…Nếu không được giới thiệu trước, chắc chúng tôi cũng tưởng các cô bán hàng là người vùng xuôi lên lập nghiệp ở đây. Các cô ăn mặc và nói năng như người Kinh vậy, chỉ khác là vẫn còn nét chân chất, thô mộc không thể lẫn vào đâu được. Qua những mẩu chuyện đối thoại ngắn ngủi, chúng tôi biết các cô tuy lao động tay chân vất vả nhưng nhiều mơ ước cao xa lắm.Chẳng biết ước vọng đổi đời của những người khác như thế nào, chứ như các cô gái ở đây thì chỉ cần lấy được một anh thanh niên người xuôi tử tế, có công ăn việc làm đã là quý hóa lắm rồi!

 

Thung Nhuối với sương mù dầy đặcDừng lại ăn bắp nướng trên đỉnh đèo

Hôm nay chúng tôi sẽ từ giã thành phố Sơn La để đến với Điện Biênvà càng lúc càng gần với vùng cao Tây Bắc:

 

….Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên

 

….Qua miền Tây Bắc núi vút cao, mờ mờ sương….

Chị Quỳnh ơi, em biết chị rất thích bài “Tình ca Tây Bắc”, em viết ra cho chịvà cả những anh chị khác xem nhé:

 

Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về

 

Vui trong nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa

 

Ngập ngừng bên suối nước reo quanh mình như muôn tiếng đàn

Bâng khuâng nỗi lòng nhịp sáo ai đưa tiếng ca rộn vang…..

Lời nhạc mà cứ như tranh, cứ như thơ, hết sức tượng thanh và gợi hình. Sau chuyến đi Tây Bắc này về, không biết có anh chị nào gửi gắm lòng mình cho các cô sơn nữ vùng cao không nữa?

Vùng núi phía Bắc là khu vực có nhiều dãy núi cao sừng sững tạo ra những con đèo dài, khúc khuỷu, đầy hiểm trở. Nơi đây hội tụ tứ đại đỉnh đèo nổi tiếng và đầy huyền thoại. Đó là các đèo: đèo Pha Đin (Sơn La – Điện Biên), đèo Khau Phạ (Yên Bái), đèo Ô Quy Hồ (Lào Cai – Lai Châu) và đèo Mã Pí Lèng (Hà Giang). Mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ cùng những câu chuyện lịch sử oai hùng, mỗi con đèo đều có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách. Nhưng ở chuyến du lịch lần này, chúng tôi chỉ ghé được 3 trong số 4 ngọn đèo nổi tiếng đó, trước hết là ngọn đèo lừng danh đã được ghi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam: đèo Pha Đin.

Di tích Đèo Pha Đin

Nằm trên Quốc lộ 6, một phần thuộc xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và một phần thuộc xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, đèo Pha Đin có độ dài 32km, ở độ cao 1.648m so với mực nước biển, địa thế rất hiểm trở, chênh vênh.

Tên gọi đèo Pha Đin xuất phát từ tiếng Thái “Phạ Đin”, trong đó Phạ nghĩa là “trời”, Đin là “đất”, hàm nghĩa đây là nơi tiếp giáp giữa trời và đất. Xưa kia, vì có sự tranh chấp ranh giới giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ), người ta đã giải quyết bằng một cuộc đua ngựa. Từ hai phía đèo, cùng một lúc ngựa hai bên phi hướng về nhau. Nơi gặp gỡ sẽ là ranh giới. Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La.

Đứng trên dốc đèo phía tỉnh Điện Biên nhìn xuống, chúng ta sẽ thấy thung lũng Mường Quài trải rộng với ngút ngàn màu xanh của đồi núi, đây đó thấp thoáng những bản làng dân tộc. Ở phía dốc bên kia là vùng đất rộng lớn, mênh mông với những dãy núi hùng vĩ nối tiếp nhau. Khi đứng ở đỉnh đèo, chúng ta sẽ thấy nền trời xanh thẳm và núi rừng hùng vĩ như hòa quyện vào làm một.Chúng tôi tưởng chừng như vẫn còn nghe đâu đây lời thơ đầy tráng khí của một thời “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”:

 

…Dốc Pha Đin chị gánh, anh thồ

 

Đèo Lũng Lô anh hò, chị hát…

Trong kháng chiến chống Pháp, đèo Pha Đin là một trong những tuyến đường huyết mạch quan trọng tiếp vận vũ khí, đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Đèo Pha Đin đã trở thành biểu tượng cho tinh thần quả cảm, gan dạ, quyết tâm đánh đuổi thực dân, giải phóng quê hương, đất nước của quân dân Việt Nam.

Qua được đèo Phạ Đin, chúng tôi tiến về trung tâm thành phố Điện Biên Phủ, đến với di tích chiến trường xưa tại phường Mường Thanh.Khu vực biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào thấp thoáng xa xa..Đến khu vực tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Những mái hầm xưa cũ được cố gắng lưu giữ, phục chế và được lợp thêm một lớp tôn che bên trên để ngăn chận nắng gió và sự phá hủy của thời gian….

 

Nghe tôi chỉ huy nhé!Một“tù binh” bị bắt sống tại cửa hầm Còn bên nầy là quân chiến thắng

 

 

Hoa ban nở trắng trên con đường dẫn vào khu vực đồi A1, nơi xảy ra những trận chiến đấu ác liệt năm xưa. Trên đồi có dựng đài kỷ niệm, bên cạnh là xác một chiếc xe tăng, còn nguyên cả dấu tích  của hố bom khổng lồ hình phễu, to bằng cả cái ao, là nơi mà quân đội nhân dân VN đã cho nổ một khối bộc phá nặng đến 960kg. Lá rụng thành những lớp dày trên đồi. Vì muốn rút ngắn đường đi nên chúng tôi đã leo tắt, đi trên lớp lá dày để rồi cứ trồi lên, tụt xuống, té ngồi mấy bận, suýt nữa trẹo cả mấy ngón tay.Nhưng vẫn cứ leo lên để được chụp hình bên cạnh cái chữ A 1 trên đỉnh đồi.

 

                                Bên đài kỷ niệm trận đánh đồi A1

Không thấy cậu hướng dẫn viên giới thiệu, hoặc là chúng tôi mải nói chuyện nghe không rõ, nhưng chắc là sáng hôm sau chúng tôi đã đi qua khu vực đèo Khau Phạ ở Yên Bái. Là con đèo dài nhất trên tuyến quốc lộ 32 với độ dài trên 30km, đèo Khau Phạ nằm ở khu vực tiếp giáp giữa huyện Văn Chấn và huyện Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái ở độ cao từ 1.200m đến 1.500m so với mực nước biển và đi qua nhiều địa danh nổi tiếng của tỉnh như: La Pán Tẩn – Mù Cang Chải, Tú Lệ, Chế Phu Nha, Nậm Có.

 

GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI TÂY BẮC (15/2 – 23/2/2014)

Của Đoàn Cựu Sinh Viên Hóa học


Đào Thị Thanh Chúc – HC82

 

 

 

Phần 2:

Do đèo thường bị sương phủ mù mịt, núi như nhô lên trên biển mây tại khu vực đỉnh đèo nên người dân địa phương đặt tên cho đèo là Khau Phạ, theo tiếng Thái có nghĩa là Sừng Trời (chiếc sừng núi nhô lên tận trời). Khau Phạ đẹp nhất vào mùa lúa chín (khoảng tháng 9 – 10) với những thửa ruộng bậc thang uốn lượn, rực rỡ sắc vàng, những cung đường đèo quanh co giữa những cánh rừng già nguyên sơ, hoang dã.

Đi qua cầu Pá Huôn, vào đến khu vực công trình thủy điện bản Chát. So với công suất phát điện của các anh chị “đại gia” là Sơn La ( 2400MW) và Hòa Bình (1920MW), thì thủy điện bản Chát chỉ xếp vào hàng em út thôi nhưng cũng đủ đảm bảo năng lượng điện tối cần thiết cho địa phương.

 

                                                Thủy điện bản Chát

 

Đoàn chúng tôi ghé thăm những bản nghèo Chế Phu Nha và La Pán Tẩn trên vùng cao Mù Căng Chải thuộc tỉnh Yên Bái. Những khuôn mặt trẻ thơ nho nhỏ ló ra từ chiếc địu sau lưng người mẹ trẻ.Dăm chiếc kẹo xanh xanh, đỏ đỏ làm sáng lên đôi mắt thích thú, làm ửng hồng đôi má trẻ thơ và ấm lòng những người dân tộc nơi bản nghèo. Trẻ quá, mới 13 tuổi mà đã lấy chồng!Sao em nỡ vội lấy chồng khi tuổi thơ chưa qua hết? Biết làm sao được khi cuộc sống của người vùng cao còn quá nhiều cực khổ; khi ánh sáng văn hóa chưa đến được bản nghèo, ý thức người vùng cao chưa bắt kịp với dân thành thị!

 

Bản nghèo Chế Phu Nha                          Phát quà cho dân bản

 

Đỉnh đèo mờ sương, chúng tôi cứ như đang chơi vơi trong biển sương trên đỉnh núi. Đoàn xe và người lại tiếp tục giong ruổi qua ngọn đèo thứ ba trong tứ đại đỉnh đèo của miền Tây Bắc: đèo Ô Quy Hồ,ranh giới tự nhiên giữa Lào Cai và Lai Châu.Nằm ở độ cao 2.073m so với mực nước biển, với độ dài kỷ lục gần 50km, con đèo nối liền hai tỉnh Lào Cai – Lai Châu mang tên Ô Quy Hồ (còn gọi là đèo Hoàng Liên Sơn hay đèo Mây) được mệnh danh là “đệ nhất đèo” của vùng Tây Bắc và của cả Việt Nam.

Cái tên “Ô Quy Hồ” xuất phát từ tiếng kêu da diết đến nao lòng của một loài chim vốn là hóa thân của tiên nữ nhà trời. Nàng yêu tha thiết một chàng trai vùng sơn cước nhưng mối tình không thành. Nàng hóa thành một loài chim để mỗi khi chiều về lại cất tiếng gọi người yêu trong khắc khoải. Chính tiếng kêu “ô quy hồ” của loài chim ấy đã được đặt thành tên cho ngọn đèo ở vùng núi này.

Đỉnh đèo Ô Quy Hồ giữa mây núi ngút ngàn còn được gọi với cái tên Cổng Trời. Đứng trên đỉnh đèo, phóng tầm mắt ra xa, chúng tôi có thể nhìn thấy đỉnh Phan Xi Păng cao sừng sững, phía dưới là những thảm rừng nguyên sinh xanh mướt. Đèo Ô Quy Hồ cũng là nơi xuất hiện băng tuyết và mưa tuyết mỗi khi nhiệt độ xuống thấp. Chúng tôi chụp ảnh lưu niệm cho nhau và cho cả đoàn. Phẩn khởi lên, cánh già chúng tôi còn dám chụp chung với đám thanh niên tuổi teen để chúng nó đem về “up” lên Facebook…Chẳng biết có “hậu quả” gì không nữa?

Qua đèo này là chúng tôi đã vào đến địa phận của tỉnh Lào Cai, sắp sửa đến với thành phố mù sương nổi tiếng vào bậc nhất ở VN: Sapa. Khí hậu Sapa trong lành và mát mẻ, thích hợp cho những loại rau quả và các loại hoa miền ôn đới như bắp cải, su hào, su su, cây dược liệu quý và nhiều loại cây ăn quả như đào, mận, v.v.

Vào thập niên 1940, người Pháp đã quy hoạch, xây dựng Sapa thành nơi nghỉ mát, điều dưỡng khá lý tưởng. Ở đây có đầy đủ hệ thống thủy điện, trạm nước, dinh toàn quyền, toà chánh sứ, sở than, kho bạc, kiểm lâm, hệ thống đường nhựa và đặc biệt là hơn 200 biệt thự theo kiểu phương Tây ở ngay trung tâm thị trấn, nằm xen giữa những cánh rừng đào và những rặng samu. Điều này làm cho thị trấn này mang nhiều dáng dấp của một thành phố châu Âu.

Chúng tôi dừng chân chụp hình bên cảnh đẹp tự nhiên đầu tiên khi ghé đến Sapa là thác Bạcvà cầu Mây cao khoảng 200m, vốn là một di tích lịch sử của người dân tộc. Từ thị trấn Sapa, đi về phía Tây khoảng 12km trên đường đi Lai Châu, ta sẽ gặp Thác Bạc ào ào chảy xuống từ độ cao trên 200m vào dòng suối dưới thung lũng Ô Quy Hồ, tạo nên âm thanh núi rừng đầy ấn tượng. Ngước nhìn lên, từ độ cao 200m, những dòng nước trắng xóa đổ xuống rào rào.

 

Thác Bạc mùa khô                                       Thác Bạc mùa mưa

 

Sau khi nghỉ trưa, chúng tôi ghé đến thămkhu du lịch Hàm Rồng. Cổng Trờitrên đường lên đỉnh núi Hàm Rồng. Đây là điểm cao nhấtcó thể đi tới bằng đường bộ để đứng ngắm đỉnh Phanxipang cao 3143m, nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn. Hoa đào rực rỡ khoe sắc khắp lối đi.

Địa điểm ngắm cảnh “nóc nhà Đông Dương”                   Hoa đào nở muộn

Sau đó là đến khu du lịch núi Hàm Rồng.Vườn hoa Hàm Rồng được xây dựng theo địa thế tự nhiên của đỉnh Hàm Rồng. Từ chân nhà thờ Sapa lên đến“sân mây” núi Hàm Rồng có độ cao 1.800 mét so với mực nước biển, chỉ dài hơn một cây số thôi nhưng để tham quan vườn hoa, chúng tôi phải leo một chặng đường dài hàng ngàn bậc đá và mất gần một giờ mới tới nơi. Đây là điểm ngắm cảnh đẹp nhất Sapa.

Theo lời cậu hướng dẫn viên của dulichvietnamgiare.vn thì Khu Du lịch sinh thái núi Hàm Rồng có 3 điểm có thể ngắm toàn cảnh thị trấn Sapa. Đó là các điểm: Vườn lan 1, ở đây có thể ngắm được toàn cảnh nhà thờ cổ Sapa  ẩn mình bên những rặng sa mu đại thụ đẹp như tranh thủy mặc. Điểm ngắm cảnh thứ 2 là trạm viễn thông Sapa cao gần 2000 mét so với mực nước biển, từ đây chúng tôi có thể ngắm đỉnh núi Phan Si Păng cao 3.143 mét được mệnh danh là “Nóc nhà Đông Dương”. Điểm ngắm cảnh thứ 3 là sân mây núi Hàm Rồng, tại đây vào những ngày đẹp trời, du khách có cơ hội ngắm nhìn trọn vẹn toàn cảnh “Thành phố trong sương” thơ mộng.

Dọc đường lên Hàm Rồng, chúng tôi khám phá nhiều cảnh đẹp và loài hoa lạ của miền đất ôn đới Sapa. Đặc biệt là vườn hoa phong lan gồm nhiều loài lan quý hiếm của núi rừng Hoàng Liên và vùng núi phía Bắc Việt Nam được di thực về ươm trồng nơi đây.

Vườn hoa mang tên Châu Âu nằm giữa khu vực chính của khu du lịch sinh thái núi Hàm Rồng cũng có khá nhiều loài hoa đẹp và độc đáo của xứ lạnh cũng được di thực từ nước ngoài về trồng thành công ở nơi đây như hoa cẩm tú cầu, hoa thạch anh tím, hoa anh đào Nhật Bản. Chúng tôi mê mải chụp những tấm hình kỷ niệm đầy ấn tượng đặc trưng của Sapa trong sắc hồng rực rỡ của vườn đào phai cổ thụ hàng 30 – 40 tuổi. Nhà thơThôi Hiệu đời Đường của Trung Quốc ngày xưa có ngây ngất và cảm nhận sắc hồng rực rỡ của hoa đào cũng chỉ đến thế mà thôi..:

 

 

Khứ niên kim nhật thử môn trung

 

 

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

 

 

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

 

 

Đào hoa y cựu tiếu đông phong..

Theo thời gian,nhờ bàn tay tôn tạo của con người, Hàm Rồng thực sự đã trở thành một thắng cảnh đầy hoa trái của Sapa. Lên Hàm Rồng, chúng tôi cứ như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất…..Điểmcao nhất của đỉnh Hàm Rồng được bố trí như một đài quan sát, theo cậu hướng dẫn viên thì nếu lên được đến đó, chúng tôi có thể phóng tầm nhìn thu toàn bộ hình ảnh thị trấn Sapa, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói vào tầm mắt của mình. Nhưng vì đã chiều quá rồi, sương xuống lạnh, vả lại ở vùng cao trời rất mau tối nên chúng tôi đành hẹn lại một dịp khác sẽ quan sát kỹ hơn.

 

                                    Toàn cảnh thị trấn Sapa nhìn từ đỉnh Hàm Rồng

 

 

Xuống hết núi Hàm Rồng, chúng tôi ghé vào tham quan và chụp hình nhà thờ cổ Sapa. 

 

Nhà Thờ đá cổ SapaGian hàng thổ cẩm vùng cao

Tọa lạc ngay trung tâm thị trấn Sapa, nhà thờ đá Sapa được xây dựng từ năm 1895, được coi là một dấu ấn kiến trúc cổ toàn vẹn nhất của người Pháp còn sót lại. Nhà thờ đã được tôn tạo và bảo tồn, trở thành một hình ảnh không thể thiếu khi nhắc đến thị trấn Sapa mù sương.

Từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc, trên đường đi tới động Tả Phìn lại có một tu viện được xây gần toàn như bằng đá tại một sườn đồi quang đãng, thoáng mát. Qua tu viện đi bộ ba cây số theo hướng bắc ta đến một hang động với độ rộng có thể đủ chứa một số lượng người cỡ trung đoàn của quân đội. Trong hang nhiều nhũ đá tạo nên những hình thù kỳ thú như hình tiên múa, đoàn tiên ngồi, cánh đồng xa, rừng cây lấp lánh. Tại Tả Phìn này với hai tộc người là Mông và Dao đã tạo nên cơ sở sản xuất mặt hàng thổ cẩm xuất bán cho cả nước và nước ngoài khá nổi tiếng. Do đã được dặn dò và giới thiệu trước nên chúng tôi xúm đông xúm đỏ lại bên một gian hàng bán chăn, drap, gối, đệm thổ cẩm để mua về làm quà tặng người thân làm kỷ niệm. Hàng mua nhiều đến nỗi cô bán hàng xoay xở không kịp.

Sapa về đêm yên tĩnh trong rét buốt lạnh giá nên tuy là thành phố du lịch nhưng các gian hàng đóng cửa cũng khá sớm. Chúng tôi dùng bữa tối tại một nhà hàng có chiếc lò sưởi lớn đặt giữa nhà, vừa dùng để nướng món ăn, vừa là chỗ để cho khách ngồi chung quanh sưởi ấm đôi bàn tay lạnh giá. Lần đầu tiên đến xứ lạnh thế này, tôi thao thức mãi không ngủ được vì chẳng biết làm thế nào cho hết lạnh.Lại nhớ chị Quỳnh buổi tối lúc ăn cơm gợi mấy chuyện về ma quỷ nên lại càng sợ thêm, quấn mền kín mít mà miệng cứ lầm thầm khấn chú Đại Bi. Đêm ở vùng cao lạnh lẽo sao mà dài thế!

Sáng ngày ra, đôi má các chị loáng thoáng đã bị giộp lên do “phỏng lạnh”, phải chuyền nhau bôi vaseline. Buổi sáng bắt đầu với giọng ngâm đầy xúc cảm của anh Mỹ qua những bài thơ của anh Sơn từ phương Nam gởi đến.Chúng tôi gởi hình qua điện thoại, đọcnhững email của anh chị em ở nhà dõi theo từng bước đoàn đi, từng nơi đoàn đến. Người trong ấy cũng xuýt xoa tưởng chừng như cũng đang được trải nghiệm cái lạnh căm căm rét buốt của vùng rừng núi Tây Bắc và cứ ước ao được gửi một chút nắng ấm áp của miền Nam cho đoàn lữ hành:

 

Anh ở trong này chưa thấy mùa đông

 

 

Nắng vẫn đỏ, mận hồng đào cuối vụ

 

 

Trời Saigon xanh xao như quyến rũ

 

 

Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam

 

 

Muốn gửi ra em một chút nắng vàng

 

 

Thương cái rét của thợ cầy, thợ cấy

 

 

Nên cứ muốn chia nắng đều ra ngoài ấy

 

 

Có tình yêu tha thiết của trong này…

 

Cám ơn các anh, các chị csvhh,chuyến hành trình về phương Bắc của chúng tôi đã ấm lên rất nhiều nhờ những thông tin về thời tiết hết sức kịp thời, những lời thăm hỏi ân cần cho sức khỏe của đoàn và có cả những vần thơ sáng tác hết sức “mì ăn liền” để ủng hộ cho tinh thần của đoàn quân Tây Bắc tiến.

Chương trình hôm nay có gì nhỉ? À, đi thăm bãi đá cổ Sapa và xã Tả Van tại thung lũng Mường Hoa, sau đó ghé thăm bản Cát Cát.

 

Ruộng bậc thang đang mùa lúa chínRuộng bậc thang sau mùa gặt

 

 

Bãi đá cổ                                                         Thung Lũng Mường Hoa   

 

Thung lũng Mường Hoa thuộc xã Hầu Thào, cách thị trấn Sapa khoảng 8km về phía Đông Nam. Từ thị trấn Sapa, vượt qua một con đèo men theo dãy núi cao, chúng tôi đến được thung lũng Mường Hoa. Điều đặc biệt tại thung lũng này là bãi đá cổ có khắc nhiều hình khác nhau, nằm xen giữa cỏ cây và những thửa ruộng bậc thang đẹp như tranh vẽ của đồng bào dân tộc. Nơi đây có 196  tảng đá sa thạch chạm khắc những hình vẽ, những ký tự kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách nay hàng vạn năm mà cho đến nay các nhà khảo cổ vẫn chưa xác định được nguồn gốc và giải mã được ý nghĩa của những thông tin đó. Ngày nay, khu chạm khắc cổ này đã được xếp hạng di tích quốc gia, là di sản độc đáo của người Việt cổ. Tại thung lũng Mường Hoa còn có con suối nhỏ xinh đẹp trải dài khoảng 15 km, qua các xã Lao Chải, Tả Van, Hầu Thào và kết thúc ở Bản Hồ.

Chúng tôi ăn trưa tại một khu nhà người dân tộc Giáy thuộc xã Tả Van.

Đoàn đến xã Tả Van Hoa chuối Sapa đã trổ hoa được 6 tháng

Những ngôi nhà lợp tranh, sân trước rợp bóng những hàng tre, hàng trúc thật hữu tình. Lấp ló những trái đàocòn tươi mơn mởn trong vòm lá xanh.Các chị lại ngây ngất trước màu hồng quyến rũ của hoa đào và lại chụp hình cho thỏa thích. Rập khuôn tác phong phục vụ khách du lịch tại các thành phố lớn, giữa bữa ăn có thêm phần biểu diễn văn nghệ. Trong không gian buổi trưa yên tĩnh, réo rắt bay bổng tiếng sáo Mèo. Mảnh sân trước nhà sáng rực lên bởi trang phục dân tộc rực rỡcủa những chàng trai cô gái H’mông, khéo léo thể hiện những điệu múa quạt, múa dù, những bài múa khèn tỏ tình sinh động. Chúng tôi cùng tham gia điệu múa sạp với đội văn nghệ và thấy mình như trẻ lại với những nhịp điệu sôi động của thời thanh niên tươi trẻ đầy sức sống ngày xưa.

 

 

Đội văn nghệ địa phương         Múa sạp với đội văn nghệ H’Mông    Coi em nhảy nè, giỏi chưa!

 

 

Đây là ký xướng âm của bài nhạc múa sạp:

 

 

Rề rề rề sol rề

 

 

Rề rề rề sol la

 

 

La la la sí sol la

 

 

La la sí la sol mì

 

 

Lá sol mì sol mì rề mì

 

 

Lá sol mì sol mì rê đồ

 

 

Rê đồ rê đồ rê mí

 

 

Rê mì rê mì sol sol…..

 

Lại tiếp tục đi thăm một bản người dân tộc khác: …bản Cát Cát.

 

Người dân tộc làm hàng lưu niệmBắt chước người dân tộc giã gạo, xay bột

 

Đây là một bản lâu đời của người Mông, nằm cách trung tâm thị trấn Sapa 2km. Nơi đây còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh, dệt vải, … Bản Cát Cát ở gần thị trấn Sapa nên thu hút rất đông du khách ghé thăm. Hiện nay nơi đây đã được xây dựng thành khu du lịch Cát Cát.

Bản làng Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Ở bản Cát Cát có một thác nước rất đẹp mà theo tiếng Pháp là: CatScat. Do đó, từ đầu thế kỷ XX, người Pháp đã phát hiện và chọn nơi đây làm khu nghỉ dưỡng cho các quan chức. Cũng từ đó, bản của người dân tộc Mông nằm bên dòng thác có tên là bản Cát Cát cho đến ngày nay.

Đến vùng bản Cát cát, tôi được biết thêm hai loại cây nữa thuộc họ măng tre: lớn gọi là mai, ruột to hơn cây lồ ồ; nhỏ gọi là hóp. Chung quanh thân của hai loại cây này cũng mọc ra những búp non nhỏ, giống như mụt măng tre,dùng làm thức ăn quanh năm cho dân địa phương. Tự nhiên tôi nhớ đến những câu thơ lãng mạn thắm ý nặng tình của nhà thơ Tố Hữu khi viết về Tây Bắc:

 

Người về rừng núi nhớ ai?

 

 

Trám bùi để rụng, măng mai để già

 

Người đi có nhớ quê nhà….

Ghé thăm thủy điện bản Cát cát, một công trình được người Pháp xây dựng từ năm 1925, dựa vào sức nước của thác Cát Cát  để lấy điện dùng trong khu vực. Lại chụp những tấm hình lưu niệm rất đẹp bên chiếc cầu và bên dòng thác trắng xóa nước từ trên cao đổ xuống.

 

 

                 Đập thủy điện Cát Cát                                              Thác Cát Cát (Tiên Sa)

Buổi tối, chúng tôi quay trở về trung tâm thị trấn Sapa. Tiếc rằng hôm nay không phải là ngày thứ bảy nên chúng tôi không có dịp tham gia  phiên chợ nổi tiếng ở vùng cao: chợ phiên và chợ tình Sapa. Chợ phiên của Sapa họp vào ngày chủ nhật tại huyện lỵ. Người dân vùng xa thường phải đi từ ngày hôm trước. Vào tối thứ bảy, có nhiều người đi chợ cùng thức và chung vui với nhau bằng những bài hát dân ca của trai gái bản làng người H'mông, người Dao, bằng những âm thanh của đàn môi, sáo, khèn và người ta gọi đó là "chợ tình". Vào ngày chủ nhật, tại chợ có thể mua các loại dược phẩm, lâm thổ sản quý hiếm, sản phẩm nhân tạo truyền thống của các dân tộc như hàng thổ cẩm thủ công; các món ăn dân tộc như thắng cố, thịt hun khói, cải mèo, su su, rượu ngô, rượu mầm thóc xã Thanh Kim, rượu táo mèo, rượu sán lùng; các lâm sản và dược liệu như củ hoàng liên, nấmlinh chi, cây mật gấu v.v.

Sau bữa ăn tối với đặc sản cá tầm của xứ lạnh, chúng tôi thong thả dạo chơi trong cái rét căm căm của rừng núi. Thị trấn sương mù về đêm dầy dẫy những người dân tộc từ các phương đổ về, buôn bán cầm chừng chừng vài ngày, chờ phiên chợ xong thì họ mới quay trở về bản làng của mình…Trời rét như vậy mà những bà mẹ trẻ vẫn địu con ngủ sau lưng, những người già vẫn phong phanh tấm áo mỏng, lê la nằm, ngồi dưới các mái hiên, ngủ lây lất ở vỉa hè chờ trời sáng để hôm sau tiếp tục kiếm ăn. Cuộc mưu sinh vất vả, cực nhọc quá, nên những khoản tiền nhỏ nhoi mà tối hôm ấy đoàn chúng tôi gửi cho họ đã là một món quà bất ngờ hết sức lớn lao.

Chúng tôi tạm biệt thị trấn sương mù để trở về thành phố Lào Cai. Ghé tham quan và chụp hình tại cửa khẩu quốc tế Lào Cai, bên cạnh cây cầu Hà Khẩu (tiếng Trung Quốc gọi là Hồ Kiều). Không hiểu sao, cứ mỗi lần đứng bên một cột mốc ranh giới quốc gia với các nước láng giềng, chúng tôi lại cảm thấy một nguồn xúc cảm bồi hồi: lần trước tôi đã ghé mũi cực Đông của Tổ Quốc tại Đại Lãnh, Phú Yên; trong đoàn cũng có các anh chị đã ghé đến cực Nam tại mũi Cà Mau và mũi cực Bắc tại Lũng Cú, Hà Giang. Và lần này nữa…

 

            Bên cột mốc cửa khẩu quốc tế Lào CaiChợ Cốc Lếu – Lào Cai

 

Tham quan và mua sắm tại chợ Cốc Lếu. Cách nay khoảng gần 20 năm, tôi nhớ trong cơ quan tôi lúc đó có một số anh chị đã đi công tác ở vùng này về kể rằng, lúc ấy ngôi chợ này chỉ là một phiên chợ nhóm họp tự phát, chỉ là các gian hàng, các sạp bày bán những mặt hàng theo dạng mậu dịch tiểu ngạch, rất đông vui và dễ dàng mặc cả, chào bán, cả người bán lẫn người mua đều rất hài lòng. Còn bây giờ…Ngôi chợ này bây giờ lớn không thua kém gì chợ Đồng Xuân ở Hà Nội hay chợ Bến Thành trong Saigon, có khi còn lớn hơn và đa dạng mặt hàng hơn nữa.Người bán thì ăn mặc lịch sự và đẹp, chỉ tiếc là cách ăn nói, ngôn ngữ hơi có chiều khiếm nhã, việc chào mời khách thiếu sự vồn vã, săn đón và lịch thiệp. Thật tiếc!

Thôi nhé, lên đường trởvề được chưa? Chúng tôi còn phải đi xuôi từ đầu nguồn dòng sông Hồng chảy vào đất Việt, lúc này còn gọi là sông Cái, cho đến khi nó chảy đến Vĩnh Phúc, Phú Thọ thì gọi là sông Thao và xuống khu vực Hà nội thì trở lại thành dòng sông Hồng thân thương, quen thuộc.

Xe đi qua khu vực đền Hùng, tiếc rằng chúng tôi không có dịp ghé vào thăm nơi phát tích quê cha đất tổ của người Việt. Thử dùng bưởi Đoan Hùng, Phú Thọ nhé! Nghe nói nổi tiếng lắm, trở thành đặc sản rồi đấy. Nhưng không biết có phải chúng tôi ghé vào nhằm lúc không phải mùa hay sao ấy nên giá bưởi khá đắt và ăn cũng thấy…bình thường, hậu vị hơi đắng, chưa thấy có đặc điểm gì nổi trội so với bưởi da xanh trong miền Nam. Chắc phải hẹn một dịp khác, đúng mùa hơn để có thể thử lại loại bưởi nổi tiếng này mới được.

 

Đoàn Sinh viên Hóa học chúng tôi đi

 

 

Hành trình gần bằng cả chiều dài đất nước…..

 

Ngày về sắp đến rồi!Thế là chúng tôi đã trải qua hơn 8 ngày trời, đi qua 6,7 tỉnh thành và trải một chặng đường dài gần 1800km để khám phá vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc, tìm hiểu văn hóa và nếp sống,nếp sinh hoạt của một số dân tộc anh em ở vùng cao. Vui và nhiều kỷ niệm lắm!Mọi người trong đoàn chúng tôi như thân ái với nhau hơn.Và tôi phát hiện ra rằng, cứ mỗi một chuyến đi cùng với các anh chị là có thêm nhiều ca sĩ mới, nhiều thi sĩ mới và sau khi đi về sẽ cho ra xuất bản và lưu hành nội bộ ít nhất từ 2 đến 3 bài thơ do mọi người cùng tự biên.Hay lắm đấy nhé, có vần có điệu ra phết!Chỉ khổ cho các đối tượng được sử dụng làm subject của bài thơ mà thôi, dở khóc dở cười, nhưng chắc là cười nhiều hơn. Các anh chị cứ thắc mắc không hiểu sao con nhỏ này lại có thể hòa đồng được với đám các anh chị già này.Người già chứ tâm hồn có già đâu, phải không ạ??? Em chẳng có anh chị nên đi chơi chung với các anh chị vui lắm, được khen cũng nhiều mà bị chê cũng lắm, nhưng là những lời khen chê hết sức chân tình và đầy tính xây dựng.Tôi cũng cảm thấy mình can đảm hơn, gan dạ hơn và thẳng thắn bộc bạch hơn những hiểu biết cùng những suy nghĩ của mình với mọi người.

Vây là chuyến đi lần này của chúng ta thu được kết quả quá tốt, phải không ạ? Phải phát huy nhiều hơn nữa mới được các anh chị ơi! Hy vọng các anh chị sẽ tiếp tục tìm hiểu, tham khảo và “biên đạo” thêm nhiều chương trình du hành như thế này để thắt chặt thêm vòng tay kết nối bè bạn, cùng nhau làm thêm nhiều việc thiện và có thêm nhiều dịp để tìm hiểu về những cảnh đẹp của quê hương, đất nước. Và nhớ đừng quên rủ em nhe!Có điều kiện và thời gian là em sẵn sàng tham gia ngay.Chào các anh, các chị.See you soon!

 

Các tin khác

Hỗ trợ trực tuyến
Điều hành du lịch:
Điều hành du lịch
Điều hành dịch vụ:
 Điều hành dịch vụ

043 9970644
0932398844
0904707711

 

Tìm kiếm
Địa điểm khời hành
TOUR MỚI
TOUR VIỆT NAM YÊU THÍCH
TOUR NƯỚC NGOÀI YÊU THÍCH
TOUR THEO YÊU CẦU
TOUR ĐẶC SẮC
TOUR XUYÊN QUỐC GIA